Các phương pháp chẩn đoán suy thận phổ biến

Suy thận có thể chẩn đoán bằng xét nghiệm máu và nước tiểu, kiểm tra protein như albumin, các xét nghiệm hình ảnh hoặc sinh thiết thận.

Suy thận hay còn gọi là bệnh thận giai đoạn cuối xảy ra khi thận đã bị mất chức năng, không còn khả năng lọc các chất thải từ máu. Bằng các xét nghiệm dưới đây, bác sĩ có thể chẩn đoán tình trạng mắc bệnh suy thận:

Xét nghiệm máu và nước tiểu

Xét nghiệm máu để biết mức lọc cầu thận (GFR), từ đó bác sĩ sẽ đánh giá thận có tốc độ lọc ở mức bình thường hay không. Theo đó, GFR từ 60 trở lên là bình thường, dưới 60 có thể bị bệnh thận và dưới 15 tức là dấu hiệu của suy thận, người bệnh có thể cần thiết phải chạy thận hoặc cấy ghép.

Xét nghiệm nước tiểu để xem albumin có trong nước tiểu hay không. Thận có chức năng bình thường sẽ lọc không cho chất albumin đi vào nước tiểu, do đó, nếu albumin dương tính trong nước tiểu có thể là một cảnh báo về chức năng thận.

Nếu hai xét nghiệm trên chưa có kết quả rõ ràng để đánh giá, bác sĩ có thể dùng tới phương pháp sinh thiết thận để đánh giá cụ thể tình trạng tổn thương hoặc suy thận đang tiến triển nhanh như thế nào.

Xét nghiệm hình ảnh

Các xét nghiệm hình ảnh có thể giúp chẩn đoán mức độ tổn thương do suy thận gây ra. Trong đó, siêu âm sử dụng sóng âm thanh có thể được dùng để đánh giá kích thước thận ở người bệnh. Đồng thời, phương pháp này cũng giúp phát hiện các nguyên nhân gây tắc nghẽn trong tổn thương thận cấp tính có nguyên nhân sau thận.





Siêu âm giúp phát hiện các nguyên nhân gây tắc nghẽn trong tổn thương thận cấp tính ở người bệnh suy thận. Ảnh: iStock

Siêu âm giúp phát hiện các nguyên nhân gây tắc nghẽn trong tổn thương thận cấp tính ở người bệnh suy thận. Ảnh: iStock

Phương pháp chụp CT (chụp cắt lớp vi tính) sử dụng tia X giúp tìm ra các bất thường về cấu trúc thận như tổn thương, áp xe, vật cản (như sỏi thận) và tích tụ chất lỏng…

Chẩn đoán phân biệt

Là phương pháp mà các bác sĩ chuyên khoa sẽ tìm ra các nguyên nhân do bệnh lý khác có thể gây ra các triệu chứng suy thận cấp tính. Ba loại suy thận cấp tính phổ biến là:

Suy thận cấp tính trước thận: biểu hiện khi lưu lượng máu qua thận giảm.

Suy thận cấp nội tại thận: có các tổn thương nhu mô thận (phần chức năng của thận).

Suy thận cấp sau thượng thận: đường tiết niệu bị tắc nghẽn.

Phân biệt được từng loại suy thận cấp tính có thể giúp bác sĩ xác định nguyên nhân gây ra suy thận.

Ngoài các phương pháp trên, suy thận có thể được chẩn đoán nhanh qua kiểm tra thể chất và kiểm tra tình trạng ngoài da. Khi kiểm tra thể chất, người bệnh sẽ được khám ngực, bụng, nếu bụng sưng có thể là có dịch trong phổi. Nếu vỗ nhẹ vào lưng, người bệnh cảm thấy đau thì đó có thể là dấu hiệu của tắc đường tiết niệu. Bằng việc chạm và ấn nhẹ phần ngực, bụng, bác sĩ cũng có thể kiểm tra nhanh có khối u hay sưng đau ở bộ phận nào đó.

Ở phương pháp kiểm tra da, một số triệu chứng có thể gặp ở người suy thận như: da xanh xao do thiếu máu (số lượng hồng cầu thấp), da đổi màu do lắng đọng urochrome (chất thường có trong nước tiểu khi không được thận loại bỏ sẽ tích tụ vào da), tăng sắc tố (các mảng da sẫm màu hơn vùng da xung quanh), các đốm xuất huyết (đốm nhỏ giống như máu) do bất thường về tiểu cầu, vết gãi ngứa do nồng độ phốt pho bất thường. Ngoài ra, người bị suy thận cấp có thể nói ngọng, lú lẫn hoặc buồn ngủ…

Việc chẩn đoán chính xác bệnh suy thận là rất quan trọng để có phương pháp điều trị thích hợp. Điều quan trọng, bệnh nhân cần chia sẻ với bác sĩ về các triệu chứng trên cơ thể sớm để bác sĩ có thể can thiệp kịp thời.

Bảo Bảo (Theo Very Well Health)

Nguồn

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*


This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.